BẮT NẠT TRONG NGÀNH Y (Bullying in medicine) – Bs. Phan Trúc

by Admin
BẮT NẠT TRONG NGÀNH Y (Bullying in medicine) - Bs. Phan Trúc
Lấy cảm hứng từ bộ phim Doctor in the House: “học sinh vào trường y với hồ sơ sức khỏe tâm thần tương tự như các bạn cùng lứa nhưng cuối cùng lại bị trầm cảm, kiệt sức, ý tưởng tự tử và các bệnh tâm thần khác với tỷ lệ cao hơn nhiều”, tôi đã cố gắng lượt dịch và tổng hợp lại bài viết sau đây, để nhận thấy vấn đề bắt nạt trong ngành y có tính đặc thù, rộng khắp không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn Thế giới, đang tác động một cách nghiêm trọng đến mỗi nhân viên y tế, và hệ quả là bệnh nhân, mà đã đến lúc chính ngành Y cần phải tìm các giải pháp cho vấn nạn này.
Bs. Phan Trúc
     Bắt nạt (Bullying) rất phổ biến trong ngành y, đặc biệt đối với sinh viên hoặc thực tập sinh. Người ta cho rằng điều này một phần là kết quả của các cấu trúc phân cấp (hierarchical structures) và phương pháp giảng dạy mang tính bảo thủ truyền thống trong ngành y có thể dẫn đến một chu kỳ bắt nạt (bullying cycle).
     Theo Field, hành vi bắt nạt thường nổi bật trong các ngành nghề chăm sóc, chẳng hạn như y học, bởi nhiều cơ hội để thực thi quyền lực đối với các khách hàng, nhân viên và sinh viên dễ bị tổn thương.
     Nạn nhân thường là một người yếu thế, tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy những kẻ bắt nạt, thường bị ghen tị và đố kị, chọn những sinh viên giỏi nhất (học lực, kỹ năng), khi sự hiện diện của họ làm cho kẻ bắt nạt cảm thấy không an toàn. Nạn nhân thường là người đạt thành tích cao trong học tập và có khả năng đứng đầu lớp trong suốt những năm học.
     Vấn đề tràn lan về ngược đãi và bắt nạt của sinh viên y khoa đã được nghiên cứu và báo cáo một cách có hệ thống trong một nghiên cứu trên JAMA năm 1990 của bác sĩ nhi khoa Henry K. Silver, cho thấy 46,4% sinh viên tại một trường y đã bị lạm dụng tại một thời điểm nào đó trong trường y; vào thời điểm họ là bác sĩ tập sự (junior), con số này là 80,6%. [1]
     Năm 2002, 594 thành viên BMA (Hiệp hội Y khoa Anh Quốc) được chọn ngẫu nhiên để hoàn thành một cuộc khảo sát về bắt nạt, 220 trong số 594 bác sĩ tập sự (junior doctor) báo cáo đã bị bắt nạt trong năm trước. [2]
1. Chu kỳ bắt nạt
     Đào tạo y khoa thường diễn ra trong các cơ sở có hệ thống phân cấp có cấu trúc cao và có truyền thống giảng dạy bằng cách đe dọa (intimidation) và sỉ nhục (humiliation). Những thực hành như vậy có thể thúc đẩy văn hóa bắt nạt và thiết lập một chu kỳ bắt nạt, trong đó những người trải nghiệm nó tiếp tục lạm dụng người khác khi họ trở nên cao cấp hơn. Các bác sĩ y khoa đang báo cáo với ngày càng nhiều với Hiệp hội Y khoa Anh rằng họ đang bị bắt nạt, thường là bởi các đồng nghiệp lớn tuổi và cao cấp hơn. [11]
     Bác sĩ Jonathan Belsey đã kể một câu chuyện biểu tượng được xuất bản trên AMA Virtual Mentor mang tên Dạy Bằng Sự Lăng Mạ (Teaching By Humiliation) rằng “bất kể bạn đã trình bày ca lâm sàng tốt như thế nào, ở đâu đó trong khi trình, bạn sẽ gặp lỗi và trao cho giáo sư săn mồi cơ hội của mình để vạch trần những bất cập của bạn. Đôi khi chỉ trích sự thiếu hiểu biết về y khoa của bạn, đôi khi câu hỏi mà bạn không hỏi được ở bệnh nhân đã tiết lộ gốc rễ của vấn đề, hoặc đôi khi sự thiếu hiểu biết của bạn trong việc khơi gợi các dấu hiệu lâm sàng cần thiết.”
2. Tác động
     Bắt nạt có thể làm giảm đáng kể sự hài lòng trong công việc và tăng căng thẳng do công việc; nó cũng dẫn đến sự tự tin thấp, trầm cảm, lo lắng và mong muốn rời bỏ việc làm. [3] [13] Bắt nạt góp phần vào tỷ lệ cao nhảy việc, nghỉ ốm của nhân viên, hiệu suất suy giảm, năng suất thấp hơn, tinh thần đồng đội kém và mất nhân viên được đào tạo. [3] Điều này có ý nghĩa đối với việc tuyển dụng và giữ chân nhân viên y tế.
     Theo nghiên cứu của Laura M. Bogart, phó giáo sư nhi khoa tại Đại học Y Harvard, việc bắt nạt mãn tính và hiện tại có liên quan đến sức khỏe kém hơn đáng kể.
     Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bác sĩ có tỷ lệ trầm cảm và tự tử cao nhất so với những người làm việc trong nhiều ngành nghề khác, tự tử cao hơn 40% đối với bác sĩ nam và cao hơn 130% đối với bác sĩ nữ. [15] [16] [17] Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt này bắt nguồn từ những năm ở trường y.[18] Học sinh vào trường y với hồ sơ sức khỏe tâm thần tương tự như các bạn cùng lứa nhưng cuối cùng lại bị trầm cảm, kiệt sức, ý tưởng tự tử và các bệnh tâm thần khác với tỷ lệ cao hơn nhiều. [19] [20] Mặc dù tiếp cận tốt hơn với chăm sóc sức khỏe, họ có nhiều khả năng tự gây tổn thương cho chính bản thân, và ít có khả năng nhận được sự chăm sóc phù hợp hoặc thậm chí nhận ra rằng họ cần được can thiệp hỗ trợ.
     Tiếp xúc với bắt nạt và đe dọa trong những năm đầu đời của đào tạo y khoa đã được chứng minh góp phần vào những hậu quả này. Sợ sự kỳ thị trong sinh viên y khoa là chủ đề của một nghiên cứu trên JAMA của Thomas Schwenk và các đồng nghiệp tại Khoa Y học Gia đình của Đại học Michigan, MI, Hoa Kỳ. Theo nghiên cứu được công bố vào tháng 9 năm 2010, 53% sinh viên y khoa báo cáo các triệu chứng trầm cảm cao, đã lo lắng rằng việc tiết lộ bệnh của họ sẽ có rủi ro cho sự nghiệp của họ và 62% nói rằng yêu cầu giúp đỡ có nghĩa là kỹ năng đối phó của họ là không đủ. Schwenk nói rằng sinh viên đang có những yêu cầu phi thường. Họ cảm thấy họ đang đưa ra quyết định sống và chết và họ không bao giờ có thể sai. “Vì áp lực rất lớn để trở nên hoàn hảo đến nỗi bất kỳ cảm giác hụt ​​hẫng nào cũng khiến họ rất lo lắng”, Schwenk nói.
3. Đối tượng
3.1. Sinh viên y khoa
     Sinh viên y khoa, có lẽ dễ bị tổn thương vì vị trí tương đối thấp của họ trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe, có thể bị lạm dụng bằng lời nói, sỉ nhục và quấy rối (phi tình dục hoặc tình dục). Phân biệt đối xử dựa trên giới tính và chủng tộc ít phổ biến hơn. [22]
     Trong một nghiên cứu, khoảng 35% sinh viên y khoa báo cáo đã bị bắt nạt. Khoảng 1/4 trong số 1.000 sinh viên được hỏi cho biết họ đã bị bắt nạt bởi một bác sĩ y khoa. Hơn nữa, bắt nạt giữa các sinh viên y khoa cũng xảy ra. Biểu hiện của bắt nạt bao gồm: [23]
– Bị làm nhục bởi giáo viên trước mặt bệnh nhân hoặc đồng nghiệp
– Bị buộc tội vì không đến từ một “gia đình y tế” (thường những người vào ngành y có anh chị lớn theo đuổi bằng cấp hoặc chia sẻ mối quan hệ với các cá nhân khác trong nghề mà mối quan hệ gia đình có một mức độ bảo vệ hoặc ảnh hưởng đặc biệt – đặc biệt là trong môi trường học thuật.) Những thực hành như vậy mở rộng đến các thủ tục tuyển sinh, thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị nội tại của ứng viên, chẳng hạn như liên quan đến giảng viên hoặc các nhà sáng chế y tế nổi tiếng. [24] [25]
– bị đặt dưới áp lực để thực hiện một thủ tục mà không có sự giám sát.
– bị các sinh viên y khoa khác tẩy chay thông qua các mạng truyền thông xã hội (bắt nạt trên Facebook), điện thoại hoặc gặp trực tiếp.
     Một nghiên cứu cho thấy khoa Y là khoa mà sinh viên thường bị ngược đãi nhiều nhất. [26]
     Bắt nạt kéo dài đến học viên sau đại học. [27] [28]

3.2. Thực tập sinh (bác sĩ/sinh viên tập sự)

     Trong một nghiên cứu ở Anh, 37% bác sĩ thực tập đã báo cáo bị bắt nạt trong năm trước và 84% đã trải qua ít nhất một vụ bắt nạt. Các bác sĩ da đen và châu Á có nhiều khả năng bị bắt nạt hơn các bác sĩ khác. Phụ nữ dễ bị bắt nạt hơn nam giới. [2]

     Các bác sĩ tập sự cảm thấy bị đe dọa ở nơi làm việc có lâm sàng, học tập kém hiệu quả và ít có khả năng xin lời khuyên hoặc giúp đỡ khi họ cần. [29] Những lời chỉ trích phá hoại dai dẳng, những bình luận mỉa mai và sỉ nhục trước mặt đồng nghiệp sẽ khiến tất cả những người thực tập kiên cường nhất mất đi niềm tin vào bản thân. [30]
     Cuộc phỏng vấn chia tay từ Sir Ian Kennedy (Chủ tịch Ủy ban Y tế) đã gây ra sự quan tâm của giới truyền thông sau tuyên bố của ông rằng bắt nạt là vấn đề ‘ăn mòn’ mà NHS (Hệ thống Y tế Quốc Gia) phải giải quyết.
Tài liệu tham khảo
1. “VM – To Bully and Be Bullied: Harassment and Mistreatment in Medical Education, Mar 14 … Virtual Mentor”. virtualmentor.ama-assn.org. 2014-03-01. Archived from the original on 2014-03-13. Retrieved 2015-02-09.
3. Field, T. (2002). “Bullying in medicine”. BMJ. 324 (7340): 786a–786. doi:10.1136/bmj.324.7340.786/a. PMC 1122715. PMID 11923166.
4. Salin, Denise (22 April 2016). “Ways of Explaining Workplace Bullying: A Review of Enabling, Motivating and Precipitating Structures and Processes in the Work Environment”. Human Relations. 56 (10): 1213–1232. doi:10.1177/00187267035610003. hdl:10227/283.
5. Ahmed, Eliza (2006). “Understanding bullying from a shame management perspective: Findings from a three-year follow-up study” (PDF). Educational and Child Psychology. 23 (2): 25–39.
7. Einarsen, Stale; Hoel, Helge; Zapf, Dieter; Cooper, Cary (22 September 2010). Bullying and Harassment in the Workplace: Developments in Theory, Research, and Practice (Second ed.). CRC Press. ISBN 9781439804902. Retrieved 2 November2016 – via Google Books.
8. Einarsen, Ståle (2000). “Harassment and bullying at work: A review of the scandinavian approach”. Aggression and Violent Behavior. 5 (4): 379–401. doi:10.1016/S1359-1789(98)00043-3.
9. Leape, Lucian L.; Shore, Miles F.; Dienstag, Jules L.; Mayer, Robert J.; Edgman-Levitan, Susan; Meyer, Gregg S.; Healy, Gerald B. (July 2012). “Perspective: A Culture of Respect, Part 1: The Nature and Causes of Disrespectful Behavior by Physicians”. Academic Medicine. 87 (7): 845–852. doi:10.1097/ACM.0b013e318258338d. PMID 22622217.
10. Anderson, Jim (April 2013). “Can “pimping” kill? The potential effect of disrespectful be… : Journal of the American Academy of Physician Assistants”. Journal of the American Academy of Pas. journals.lww.com. 26 (4): 53. doi:10.1097/01720610-201304000-00014. PMID 23610843.
11. Williams K (1998) Stress linked to bullying. BMA News Review, April 18
12. “VM – Teaching by Humiliation—Why It Should Change, Mar 14 … Virtual Mentor”. virtualmentor.ama-assn.org. 2014-03-01. Archived from the original on 2014-03-13. Retrieved 2015-02-09.
13. Björkqvist, K (2001). “Social defeat as a stressor in humans”. Physiology & Behavior. 73 (3): 435–42. doi:10.1016/S0031-9384(01)00490-5. PMID 11438372.
14. Bogart, Laura M.; Elliott, Marc N.; Klein, David J.; Tortolero, Susan R.; Mrug, Sylvie; Peskin, Melissa F.; Davies, Susan L.; Schink, Elizabeth T.; Schuster, Mark A. (17 February 2014). “Peer Victimization in Fifth Grade and Health in Tenth Grade”. Pediatrics. 133 (3): 440–447. doi:10.1542/peds.2013-3510. PMC 4530298. PMID 24534401.
15. Rotenstein, Lisa S.; Ramos, Marco A.; Torre, Matthew; Segal, J. Bradley; Peluso, Michael J.; Guille, Constance; Sen, Srijan; Mata, Douglas A. (2016-12-06). “Prevalence of Depression, Depressive Symptoms, and Suicidal Ideation Among Medical Students: A Systematic Review and Meta-Analysis”. JAMA. 316 (21): 2214–2236. doi:10.1001/jama.2016.17324. ISSN 1538-3598. PMC 5613659. PMID 27923088.
16. Mata, Douglas A.; Ramos, Marco A.; Bansal, Narinder; Khan, Rida; Guille, Constance; Di Angelantonio, Emanuele; Sen, Srijan (8 December 2015). “Prevalence of Depression and Depressive Symptoms Among Resident Physicians”. JAMA. 314(22): 2373–83. doi:10.1001/jama.2015.15845. PMC 4866499. PMID 26647259.
17. Chen, Pauline W. (2010-10-07). “The New York Times”. The New York Times. nytimes.com. Retrieved 2015-02-09.
19. “The occupation with the highest suicide rate | Psychology Today”. psychologytoday.com. Retrieved 2015-02-09.
20. Rotenstein, Lisa S.; Torre, Matthew; Ramos, Marco A.; Rosales, Rachael C.; Guille, Constance; Sen, Srijan; Mata, Douglas A. (September 18, 2018). “Prevalence of Burnout Among Physicians: A Systematic Review”. JAMA. 320 (11): 1131–1150. doi:10.1001/jama.2018.12777. ISSN 1538-3598. PMC 6233645. PMID 30326495.
21. Devi, Sharmila (2011). “Doctors in distress”. The Lancet. 377 (9764): 454–455. doi:10.1016/S0140-6736(11)60145-1. PMID 21300592. Retrieved 2015-02-09.
22. Coverdale, J. H.; Balon, R.; Roberts, L. W. (2009). “Mistreatment of Trainees: Verbal Abuse and Other Bullying Behaviors”. Academic Psychiatry. 33 (4): 269–73. doi:10.1176/appi.ap.33.4.269. PMID 19690101.
24. “VM – Legacy Admissions in Medical School, Dec 12 … Virtual Mentor”. virtualmentor.ama-assn.org. 2012-12-01. Archived from the original on 2014-03-07. Retrieved 2015-02-09.
25. “Connections to University can affect admissions decision | Stanford Daily”. stanforddaily.com. 2013-03-13. Retrieved 2015-02-09.
26. Rautio, Arja; Sunnari, Vappu; Nuutinen, Matti; Laitala, Marja (2005). “Mistreatment of university students most common during medical studies”. BMC Medical Education. 5: 36. doi:10.1186/1472-6920-5-36. PMC 1285362. PMID 16232310.
27. Stebbing, J; Mandalia, S; Portsmouth, S; Leonard, P; Crane, J; Bower, M; Earl, H; Quine, L (2004). “A questionnaire survey of stress and bullying in doctors undertaking research”. Postgraduate Medical Journal. 80 (940): 93–6. doi:10.1136/pmj.2003.009001. PMC 1742926. PMID 14970297.
28. Bairy, KL; Thirumalaikolundusubramanian, P; Sivagnanam, G; Saraswathi, S; Sachidananda, A; Shalini, A (2007). “Bullying among trainee doctors in Southern India: A questionnaire study”. Journal of Postgraduate Medicine. 53 (2): 87–90. doi:10.4103/0022-3859.32206. PMID 17495372.
29. Israël, E; Louwette, R; Lambotte, C (1975). “Two familial cases of congenital erythroderma ichthyosiforme”. Revue Médicale de Liège. 30 (13): 439–44. PMID 1096266.
30. Paice E, Smith D (2009). “Bullying of trainee doctors is a patient safety issue”(PDF). The Clinical Teacher. 6: 13–7. doi:10.1111/j.1743-498x.2008.00251.x.